Điều này đòi hỏi người vẽ bùa ngày thường phải chăm chỉ tu luyện, tích lũy đủ linh khí mới có thể rót luồng linh khí hùng hậu vào phù lục trong lúc vẽ.
Thần ngưng thì phù mới thành chân phẩm, cần phải tập trung tinh thần, không chút phân tâm. Trong quá trình vẽ bùa, sự chú ý chỉ cần hơi xao nhãng một chút cũng có thể dẫn đến thất bại."
"Hạ bút xuống giấy, quỷ thần đều hay. Nếu lúc hạ bút mà tay run rẩy, đó là vì khí chưa đủ, thần chưa định.
Lúc này có thể điều tức ngưng thần trước, đợi hơi thở bình ổn, tâm thần an định rồi mới hạ bút. Khi vẽ bùa phải liền một mạch, mỗi một nét bút đều ẩn chứa sức mạnh phù văn cùng dao động linh khí đặc thù.
Đường nét phù văn dài ngắn, dày mảnh, cong thẳng đều có quy củ, không thể tùy tiện làm bừa."
"Phù chia ngũ hành, đều có thuộc tính riêng.
Lôi phù thuộc Mộc, bởi lôi động tại mộc, mộc có thể dẫn lôi, Lôi phù có thể mượn sức sinh sôi của mộc để dẫn động sức mạnh sấm sét.
Hỏa phù thuộc Hỏa, đặc tính bốc lên, có thể giải phóng sức mạnh ngọn lửa mãnh liệt.
Thủy phù thuộc Thủy, có thể điều khiển dòng nước, thấm nhuần vạn vật, cũng có thể dùng để phòng ngự.
Thổ phù thuộc Thổ, kiên cố nặng nề, có thể củng cố phòng ngự, trấn áp tà ma.
Kim phù thuộc Kim, sắc bén cương mãnh, có thể trảm yêu trừ ma.
Khi vẽ bùa cần phải tương hợp với linh căn của bản thân mới có thể phát huy hiệu quả lớn nhất.
Nếu linh căn thuộc Hỏa, vẽ Hỏa phù sẽ càng thêm thuận tay, uy lực cũng mạnh mẽ hơn."
"Giờ Dần, dương khí mới lên, lúc này dương khí giữa đất trời manh nha, có lợi cho việc vẽ các loại phù lục.
Tuy nhiên, mỗi loại phù lục lại có canh giờ vẽ tốt nhất riêng biệt.
Như Khu Tà phù, thích hợp vẽ vào giờ Ngọ, bởi giờ Ngọ dương khí thịnh nhất, có thể tăng cường sức mạnh trừ tà.
Tích Tà phù thích hợp vẽ vào giờ Tý, giờ Tý âm khí nồng đậm, lấy âm chế âm, có thể trấn trạch trừ tà.
Khứ Bệnh phù lại thích hợp vẽ vào giờ Mão, giờ Mão vạn vật sinh sôi, có lợi cho việc trừ bệnh tiêu tai.
Ngoài ra, Kỳ Phúc phù thích hợp vẽ vào giờ Thìn, khi đó đất trời tường hòa.
Chiêu Tài phù thích hợp vẽ vào giờ Thân, giờ Thân là lúc mặt trời ngả về tây, kim khí hưng thịnh, có lợi cho việc chiêu tài."
"Phù vốn không có hình chất cố định, lấy tâm làm gốc. Phù sư thượng đẳng thần thông quảng đại, một cọng cây ngọn cỏ đều có thể làm phù.
Bởi họ đã lĩnh ngộ chân lý của Phù đạo, tâm hợp nhất với trời đất, có thể ban cho vạn vật sức mạnh của phù lục.
Nhưng đối với người mới học, vẫn cần mượn phù chỉ cùng các vật dẫn khác."
"Phù không chú không linh, chú không quyết không ứng.
Chú là hồn của phù, trao cho phù lục công hiệu cùng chỉ lệnh đặc thù.
Quyết là mật của phù, quyết định việc kích hoạt và uy lực của phù lục.
Phù lục khác nhau cần phối hợp với chú ngữ cùng khẩu quyết tương ứng.
Chú ngữ cần niệm rõ ràng chuẩn xác, khẩu quyết thì phải kết hợp với thủ ấn đặc thù.
Hai thứ bổ trợ cho nhau, thiếu một thứ cũng không xong."
"Chân phù ắt sẽ sinh ra linh khí, giả phù chẳng qua chỉ có cái vỏ bề ngoài. Muốn phân biệt phù thật giả, có thể đốt cháy nhìn khói, khói của chân phù thẳng tắp xông lên trời xanh, lại mang theo mùi hương kỳ dị.
Cũng có thể thả vào nước nhìn hình, chân phù vào nước sẽ không tan rã, trái lại còn khiến nước ẩn chứa linh khí.
Ngoài ra, còn có thể phân biệt thông qua việc cảm nhận dao động linh khí tỏa ra từ phù lục, dao động linh khí của chân phù bình ổn mà mạnh mẽ, giả phù thì linh khí yếu ớt lại hỗn loạn."
"Hiệu lực của phù lục tùy thuộc vào tu vi.
Bùa do người mới học vẽ ra, ba ngày sẽ mất đi hiệu lực, bởi linh khí rót vào không đủ, khó lòng duy trì lâu dài.
Bùa tiểu thành có thể giữ hiệu lực trong một tháng, lúc này người vẽ đã có sự tiến bộ trong việc khống chế linh khí và thấu hiểu phù văn.
Bùa đại thành thì qua năm tháng vẫn không suy suyển, người vẽ đã nắm giữ thuần thục tinh túy của Phù đạo, có thể rót linh khí hùng hậu và ổn định vào phù lục."
"Phù Kinh có câu: Thiên cơ không thể dễ dàng tiết lộ. Vẽ bùa nếu thất bại, nhẹ thì phù lục vô hiệu, uổng phí tâm sức cùng vật liệu; nặng thì chịu phản phệ, tổn hại nguyên khí bản thân.
Bởi vậy, khi vẽ bùa cần phải hết sức cẩn trọng. Trước mỗi lần vẽ bùa đều phải chuẩn bị chu toàn, điều chỉnh trạng thái bản thân, đảm bảo không có sai sót."
"Phù đạo tinh vi ảo diệu, không phải công phu một sớm một chiều có thể thành. Những điều truyền thụ hôm nay chẳng qua chỉ là chút pháp môn cơ bản. Một năm sau, bản tọa sẽ lại giảng giải cho chư vị về cách phối hợp phù trận.
Phù trận chính là cách vận dụng cao cấp của phù lục, nhiều lá bùa phối hợp với nhau có thể phát huy uy lực vượt xa một tấm phù lục đơn lẻ."
"Trong luyện thành đan, ngoài dùng thành pháp. Khí là căn bản của phù, phù là sự vận dụng của khí.
Cả hai bổ trợ cho nhau, không thể xem nhẹ bên nào.
Linh khí cung cấp nền tảng sức mạnh cho Phù đạo, còn Phù đạo lại là sự thể hiện ra bên ngoài của thành quả linh khí.
Chỉ khi linh khí dồi dào mới có thể vẽ ra phù lục có uy lực mạnh mẽ, mà thông qua việc vẽ phù lục, lại càng rèn giũa thêm khả năng khống chế linh khí."
"Một hạt linh đan nuốt vào bụng, mới biết mệnh ta chẳng do trời. Đại đạo chí giản, quý ở sự kiên trì. Mọi thuyết tốc thành trên thế gian đều là lời hư vọng. Con đường tu hành cần phải vững vàng chắc chắn, từng bước một tiến lên. Kẻ nóng vội cầu thành thường có căn cơ bất ổn, khó lòng đi xa."
"Lòng người vốn ưa tĩnh, nhưng dục vọng thường níu kéo. Trở ngại lớn nhất trên đường tu hành không phải thiên tư, chẳng phải cơ duyên, mà chính là tâm ma. Tâm ma như hình với bóng, chỉ cần sơ sẩy một chút sẽ thừa cơ xâm nhập. Chỉ có luôn cảnh giác, giữ cho nội tâm thanh tịnh sáng suốt mới có thể chống lại sự quấy nhiễu của tâm ma."
"Đạo không chọn người, người tự chọn đạo. Chỉ cần có lòng hướng đạo, ai ai cũng có thể tu hành. Đạo không nơi nào không có, dẫu ở chốn phân gio uế tạp cũng có đạo tồn tại. Bất kể xuất thân sang hèn, tư chất linh căn cao thấp, chỉ cần có một tấm lòng hướng đạo đều có thể bước lên con đường tu hành."
"Sư phụ dẫn vào cửa, tu hành tại bản thân. Dẫu có minh sư chỉ điểm có thể bớt đi đường vòng, nhưng chung quy vẫn cần tự mình dốc lòng tham ngộ. Minh sư có thể định hướng và truyền thụ kinh nghiệm, song cảm ngộ cùng đột phá trong tu hành vẫn cần tự mình mày mò trong thực tiễn."
"Không đoạn tuyệt tình cảm, dục vọng mà vẫn có thể siêu thoát. Thái thượng vong tình không phải là vô tình, mà là không bị chữ tình vây khốn. Người tu hành cần tìm được sự cân bằng giữa tình cảm và tu hành, không bị cảm xúc chi phối, dùng lý tính cùng trí tuệ để đối đãi vạn vật thế gian."
Buổi giảng đạo kéo dài suốt chín giờ, Kim Hà chân nhân nhả chữ như châu rơi mâm ngọc, từng câu từng lời tựa chuông sớm trống chiều, thức tỉnh lòng người.
Chỉ thấy trên đỉnh đầu chân nhân hiện ra cảnh tượng tam hoa tụ đỉnh, ngũ khí triều nguyên, giữa làn khánh vân lượn lờ thoắt ẩn thoắt hiện chân ngôn đại đạo.
Lão lúc thì dẫn kinh trích điển, lúc lại lấy bản thân làm ví dụ, từ tốn giãi bày đạo pháp huyền diệu.
Phía dưới đài, mấy chục vạn tu sĩ kẻ thì chăm chú lắng nghe, người thì múa bút ghi chép nhanh, thậm chí có kẻ đốn ngộ ngay tại chỗ, linh khí quanh thân cuộn trào mãnh liệt.
Đến khi mặt trời đỏ lặn về tây, ráng chiều ngập tràn chân trời, chân nhân bỗng nhiên ngừng lời.
Khánh vân trên đỉnh đầu dần tiêu tán, hóa thành từng đốm kim quang chìm vào hư không.
Nhiều đệ tử vẫn ngồi ngay ngắn tại chỗ, say sưa mê mẩn, ngơ ngác như vừa tỉnh mộng lớn.
"Buổi giảng đạo hôm nay dừng tại đây." Tiếng của chân nhân trong trẻo như suối nguồn, đánh thức mọi người khỏi cảnh giới ngộ đạo.
"Con đường tu chân, quý ở hai chữ thành và hằng." Chân nhân thấm thía nói,
"Thành là tâm không xao nhãng; hằng là kiên trì không bỏ cuộc. Mong chư vị đệ tử chăm chỉ tu tập, hẹn gặp lại sau một năm."
Dứt lời, chân nhân đứng dậy, đạo bào tử kim phấp phới đón gió.
Câu châm ngôn cuối cùng vẫn còn vang vọng bên tai mọi người:
"Đại đạo chí giản, cốt ở kiên trì. Giải tán đi."
Lời còn chưa dứt, Kim Hà chân nhân đã hóa thành một luồng kim quang phóng thẳng lên trời, chớp mắt đã biến mất.
Lúc này, chúng tu sĩ dưới đài mới như vừa tỉnh mộng, đồng loạt đứng dậy hành lễ.
Trong thoáng chốc, tiếng "Cung tiễn chân nhân" trên quảng trường vang lên nối tiếp nhau, kéo dài không dứt.